Tháo điểm nghẽn ngành công nghiệp không khói

Được ví như ngành công nghiệp không khói, có thể đóng góp 10% GDP trong 6 năm tới, ngành du lịch Việt vẫn còn một khoảng cách xa so với các quốc gia đi đầu trong khu vực.

Quan sát từ góc độ một nhà tổ chức sự kiện về ẩm thực, khách sạn có liên quan đến du lịch, ông BT Tee, Tổng Giám đốc công ty UBM VES, nhận định ngành du lịch Việt vẫn còn rất non trẻ, kém hơn rất nhiều so với những quốc gia lận cận như Thái Lan, Malaysia…

“Nếu nói đến du lịch ở châu Á thì du khách quốc tế đều nói tới Thái Lan và nghĩ đến đảo Phuket. Trong khi đó, không phải ai cũng biết đến đảo Phú Quốc của Việt Nam” – ông BT Tee chia sẻ.

Còn khoảng cách xa

Vị doanh nhân ngoại quốc này kể rằng khi ông đi công tác ở Australia, biết ông đang sinh sống, làm việc tại Việt Nam, nhiều người ở đây có hỏi ông là Việt Nam có gì hấp dẫn để tham quan du lịch và mua sắm hay không.

Theo ông BT Tee, mức độ quan tâm đến Việt Nam của du khách nước ngoài đã tăng lên rất nhiều trong thời gian qua và đây mới chỉ là điểm khởi đầu khi còn nhiều địa điểm du lịch chưa được quảng bá rầm rộ.

Phần đông du khách chỉ biết thông tin về các điểm du lịch ở Việt Nam qua kênh truyền thông mạng xã hội, còn kênh thông tin du lịch truyền thống của Nhà nước thì vẫn còn chưa mạnh như các quốc gia khác.

Trao đổi với giới doanh nghiệp (DN) làm du lịch và các cơ quan quản lý, hoạch định chính sách về du lịch tuần vừa rồi tại Tp.HCM, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cũng đã lưu ý một thực tế là khi so sánh với các quốc gia đi đầu trong khu vực thì ngành du lịch Việt Nam vẫn còn một khoảng cách khá xa.

Nói về một số hạn chế mà du lịch Việt gặp phải, người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh cơ sở hạ tầng phát triển chưa đồng bộ, phát triển du lịch chưa gắn với bảo vệ môi trường và chưa đưa yếu tố phát triển bền vững lên hàng đầu. Mặc khác, việc xây dựng sản phẩm du lịch còn thiếu đặc sắc và bản sắc, nguồn nhân lực còn thiếu và yếu, năng lực quản lý điểm đến và di sản còn thấp, cơ sở đào tạo chưa đủ.

Trên thực tế, trong 3 năm 2016, 2017 và 2018, lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đã tăng 55%, nhưng mức tăng này được cho là vẫn chưa khai thác hết tiềm năng.

Các địa phương là trung tâm du lịch đều có tốc độ tăng trưởng mạnh, trong đó Tp.HCM đón 36,5 triệu lượt khách, trong đó có khoảng 7,5 triệu lượt khách quốc tế (tăng 17,38% so với năm 2017; Hà Nội đón khoảng 28 triệu lượt khách du lịch, trong đó khoảng 5,5 triệu lượt khách quốc tế; Quảng Ninh đón 12,5 triệu lượt khách, trong đó 5,3 triệu lượt khách quốc tế; Đà Nẵng đón 7,7 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt gần 3 triệu.

Tuy nhiên, đại diện của CTCP Capella Holding (một DN đang có nhiều hoạt động mua bán, sáp nhập trong ngành ẩm thực và dịch vụ khách sạn, du lịch) đánh giá Tp.HCM dù là điểm đến với lượng khách lớn nhất tại Việt Nam (4,6 đến 5 triệu/năm) nhưng vẫn thấp hơn Kuala Lumpur hoặc Bangkok (lần lượt đón 11 triệu và 19,6 triệu khách mỗi năm), xét theo số lượng khách quốc tế.

nganh-cong-nghiep-khong-khoi-2498-155507

Mức chi tiêu của du khách quốc tế ở Tp. HCM thấp hơn các thành phố tương tự trong khu vực

Vẫn vướng lực cản

Lượng khách quốc tế lưu lại Tp. HCM lâu hơn, nhưng mức chi tiêu mỗi ngày lại có xu hướng thấp hơn so với các thành phố tương tự trong khu vực. Nhìn chung, giới chuyên gia cho rằng du lịch quốc tế đến Việt Nam không tăng trưởng hay tăng trưởng chậm nhiều năm gần đây (so với mức tăng trưởng khoảng 4% trong khu vực).

Trong khi đó, các báo cáo Chỉ số cạnh tranh ngành Du lịch và Lữ hành của World Economic Forum cho thấy, chỉ số cạnh tranh chung của du lịch Việt Nam đang được cải thiện khá nhanh: Từ vị trí thứ 80/140 quốc gia (2013) rút dần thứ bậc thành 75/136 (2015) và 67/136 (2017).

Mặc dù vậy, ông Bùi Tá Hoàng Vũ, Giám đốc Sở Du lịch Tp.HCM, phân trần là nhiều chỉ tiêu lẽ ra được coi là lợi thế của du lịch Việt Nam thì vẫn chưa được đánh giá cao, trong đó có các chỉ tiêu về nguồn nhân lực chưa phải là lợi thế so với các nước khác.

Ví dụ, chỉ số chất lượng cạnh tranh về tài nguyên của Việt Nam đạt 4.0/7.0, trong khi chỉ số này đối với Singapore chỉ đạt 2.4 nhưng điểm số chất lượng cạnh tranh nguồn nhân lực của quốc gia này lại đạt mức 5.6/7.0, còn Việt Nam đạt 4.9/7.0. Chỉ số cạnh tranh chung của Singapore xếp 13/136 quốc gia.

Ông Vũ cho biết xếp hạng về đầu tư đào tạo mở rộng cho lao động của nước ta thấp hơn nhiều (69/136) so với các nước châu Á có nền du lịch phát triển như Singapore (3/126), Malaysia (9/136) hay Nhật Bản (10/136).

Những con số này cho thấy sự mất cân bằng giữa các chỉ tiêu cạnh tranh trong du lịch vẫn tồn tại ở hầu hết các quốc gia. Tuy nhiên, một điều có thể thấy là dù tài nguyên du lịch có ưu đãi nhưng nếu thiếu nguồn nhân lực chuyên nghiệp – điều kiện quan trọng để đảm bảo chất lượng dịch vụ – sự tăng trưởng du lịch sẽ vẫn còn lực cản.

Hoặc như lực cản trong vấn đề hạ tầng giao thông kết nối du lịch (như đường bộ, cao tốc, sân bay…). Phía đại diện Capella Holding dẫn chứng trường hợp sân bay Tân Sơn Nhất ở Tp. HCM tuy là điểm kết nối quan trọng trong nội địa và là trung tâm trung chuyển cho các nước châu Á nhưng ít kết nối với các khu vực còn lại trên thế giới.

Do đó, để thu hút du khách quốc tế, phía DN này đề xuất Nhà nước cần tính toán các ưu đãi cho các đường bay đang trong giai đoạn phát triển tập trung vào các đường bay gần đạt đến “điểm bùng phát” chứ không phải đường bay không có lợi nhuận.

thoibaokinhdoanh.vn

Share